Chuyên gia Úc giải đáp thắc mắc về vaccine Pfizer và AstraZeneca

Các nhà chức trách Úc đã so sánh hai loại vaccine Pfizer và AstraZeneca, giải đáp những thắc mắc phổ biến, đồng thời đưa ra một số khuyến cáo.

Tình nguyện viên công nghệ mùa dịchCuộc chiến chống Covid-19: Giải pháp nào giúp doanh nghiệp bảo vệ vững chắc chuỗi cung ứng?
Nên tiêm vaccine Pfizer hay AstraZeneca để phòng dịch Covid-19 là câu hỏi được nhiều người Úc đặt ra?

Độ tuổi được tiêm chủng, sự khác biệt giữa hai loại vaccine Pfizer và AstraZeneca, là hai trong số những vấn đề mà nhiều người trên thế giới quan tâm nhất.

Các thắc mắc này đã được giải đáp bởi chuyên gia tiêm chủng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nick Wood đến từ Đại học Sydney (Úc).

Cơ chế khác biệt

Mục tiêu chung của cả hai loại vaccine khi được đưa vào cơ thể là kích hoạt cơ chế tạo ra kháng thể chống lại Covid-19.

Để đạt được điều đó, cả hai loại vaccine trên đều sử dụng công nghệ di truyền để kích hoạt phản ứng. Trong khi AstraZeneca dùng một mã DNA, thì Pfizer dùng một mã mRNA, cả hai mã đều tạo ra một loại protein. Sự khác biệt ở đây là cách chúng đưa các loại mã này vào trong cơ thể.

Pfizer đặt mã vào bên trong một thứ được ví như “bong bóng xà phòng”, khi mã nằm trong bong bóng đó, nó sẽ dễ dàng trượt vào bên trong tế bào.

AstraZeneca đặt mã di truyền bên trong phiên bản suy yếu của virus adeno (virus cúm gây bệnh ở tinh tinh), sau đó để virus này lây nhiễm cho tế bào bên trong cơ thể. Một khi virus adeno xâm nhập vào bên trong tế bào, nó cung cấp mã cho tế bào đó nhằm kích hoạt phản ứng của hệ miễn dịch.

Khuyến nghị về độ tuổi tiêm vaccine

Khi vaccine được đưa ra thị trường, nhà sản xuất sẽ đưa ra giới hạn độ tuổi thấp nhất có thể sử dụng vaccine.

Đối với Pfizer là 16 tuổi và AstraZeneca là 18 tuổi, sau khi cân nhắc vấn đề đông máu.

Đông máu là phản ứng phụ hiếm gặp với riêng vaccine AstraZeneca và đây cũng là câu chuyện đáng lưu tâm đối với những người trẻ tuổi. Các ca gặp vấn đề đông máu thường ở nhóm tuổi từ 30 đến 40.

Trong khi đó, vaccine Pfizer thường được ưu tiên tiêm cho những người dưới 60 tuổi.

Nhiều quốc gia cũng có những giới hạn tương tự về độ tuổi tiêm chủng với hai loại vaccine này.

Nguy cơ đông máu là gì?

Đông máu là một rủi ro rất nhỏ khi tiêm vaccine AstraZeneca, hơn nữa rủi ro này càng giảm đối với những người lớn tuổi.

Nếu bạn quá lo lắng về rủi ro này thì lựa chọn duy nhất của bạn là đợi cho đến khi vaccine Pfizer trở nên phổ biến và dễ tiếp cận hơn. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi, bạn hoàn toàn có nguy cơ nhiễm Covid-19 với tình trạng nặng.

Nếu bạn là người sống ở vùng nông thôn hay trong một trang trại và hiếm khi gặp ai, bạn có thể chờ đợi. Còn nếu bạn 70 tuổi, sinh sống và làm việc trong cộng đồng ở thành phố đông đúc, nơi đang có dịch, bạn nên tiêm vacccine Covid-19, bất kể đó là loại gì.

Chúng ta cần cân nhắc lợi hại, thiệt hơn giữa nguy cơ đông máu và nguy cơ nhiễm Covid-19.

Mới đây Nhóm Cố vấn Kỹ thuật Tiêm chủng của Úc (ATAGI) khuyến nghị những người lớn dưới 60 tuổi, những người không được tiếp cận ngay với vaccine Pfizer nên đánh giá lại những lợi ích đối với họ khi được tiêm vaccine AstraZeneca, so với nguy cơ về những tác dụng phụ nghiêm trọng rất hiếm gặp”.

Đông máu có thể dẫn đến tử vong không?

Có, nhưng tỷ lệ rất thấp. Các nhà khoa học đã xác định có mối liên hệ giữa vaccine AstraZeneca và một tác dụng phụ rất hiếm gặp, nghiêm trọng được gọi là chứng nghẽn mạch kết hợp với giảm tiểu cầu.

Khả năng tác dụng phụ này xảy ra rất thấp, có thể xảy ra ở khoảng 4-6 người trong hàng triệu người tiêm chủng.

Tỷ lệ tử vong đối với các trường hợp đông máu là 5%. Các ca tử vong là do cục máu đông xuất hiện trong đầu. Nếu được khám và chẩn đoán sớm thì hoàn toàn có thể qua khỏi. Trên thực tế đã có một số người được điều trị thành công.

Tác dụng phụ khi tiêm vaccine Pfizer là gì?

Pfizer gây ra một số tác dụng phụ bao gồm sốt, nhức đầu, mệt mỏi trong vài giờ đầu tiên sau tiêm.

Có một số ít trường hợp, phổ biến hơn ở nam giới, bị viêm cơ tim và viêm màng ngoài tim. Xác suất xảy ra là khoảng 1/40.000-50.000 và có thể xuất hiện trong vài ngày hoặc vài tuần sau tiêm chủng.

Các triệu chứng của những trường hợp này là đau ngực và khó thở. Nếu bạn có những triệu chứng này, hãy tìm đến bác sĩ hoặc đến khoa cấp cứu của bệnh viện để làm điện tâm đồ và xét nghiệm máu.

Những trường hợp này có thể được điều trị bằng Nurofen hoặc các loại thuốc chống viêm khác.

Hãng Pfizer hy vọng có vaccine cho trẻ em từ 5-11 tuổi sớm nhất vào cuối mùa Thu. (Nguồn: Reuters)
Ở một số quốc gia, vaccine Pfizer có thể được tiêm cho trẻ từ 12-15 tuổi. (Nguồn: Reuters)

Nguy cơ tử vong vì Covid-19

Điều này phụ thuộc vào độ tuổi, tình trạng bệnh lý nền. Người lớn tuổi có nguy cơ tử vong cao hơn người trẻ.

Nếu chúng ta có thể dự đoán ai sẽ sống và chết vì nhiễm virus SARS-CoV-2 thì mọi chuyện lại khác. Tuy nhiên điều đó là không thể.

Ai cũng biết virus SARS-CoV-2 có thể khiến người ta ốm nặng, thậm chí gây tử vong. Khi diễn biến bệnh nặng, ai cũng có thể phải nhập viện và phải điều trị trong đơn vị điều trị tích cực (ICU).

Thậm chí sau khi bệnh nhân đã khỏi và xuất viện, các triệu chứng như mệt mỏi hay khó thở vẫn có thể kéo dài sau đó.

Có nên tiêm phòng cho trẻ em?

Ở một số quốc gia, vaccine Pfizer có thể được tiêm cho trẻ từ 12 tuổi trở lên.

Hiện Cơ quan quản lý dược phẩm Úc (TGA) đã phê chuẩn việc tiêm vaccine Pfizer và Moderna cho trẻ em từ 12 tuổi trở lên. Liều khuyến cáo và thời gian giữa các mũi tiêm cũng tương tự như người lớn, 2 mũi cách nhau 28 ngày.

Câu hỏi đặt ra hiện nay là những ai trong độ tuổi này nên được chủng ngừa? Theo ATAGI, bất kỳ ai mắc các bệnh mãn tính hoặc bị ức chế miễn dịch nên được ưu tiên tiêm trước.

Lý do nên tiêm chủng là để bảo vệ bản thân và cũng là để bảo vệ cộng đồng. Trên thực tế đã có những ca tử vong ở trẻ em vì biến chủng Delta.

Tuy nhiên, người lớn vẫn là đối tượng cần được ưu tiên tiêm phòng trước hết bởi khi mắc bệnh, họ sẽ dễ trở nặng hơn.

Theo baoquocte

Đang tải...

Đối Tác Uy Tín